Networks Business Online Việt Nam & International VH2

Chó Gôn và chó Đốm

Đăng ngày 24 February, 2023 bởi admin
Nhà thơ Lưu Trùng Dương tên thật là Lưu Quang Lũy, sinh ngày 05 tháng 5 năm 1930. Quê quán tại Q. Hải Châu, thành phố Thành Phố Đà Nẵng. Ông tham gia cách mạng từ rất sớm, vào bộ đội đi chiến đấu sát cánh với nhân dân khu V và Tây Nguyên trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Là Hội viên Hội Nhà văn Nước Ta, Hội viên Hội Nhà văn Thành Phố Đà Nẵng, nguyên Phó quản trị thường trực, Bí thư Đảng Đoàn Hội Văn nghệ Quảng Nam – TP. Đà Nẵng, Tổng thư ký Hội Văn nghệ TP TP. Đà Nẵng. Ông qua đời ở tuổi 84 tại nhà riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 9/10/2014. Đến nay ông đã có nhiều tác phẩm, trong đó có 19 tập thơ, 15 tác phẩm văn xuôi, 9 ngữ cảnh sân khấu – điện ảnh. Ông đã nhận được 11 phần thưởng văn học, 5 huy chương những loại. BBT Trang tin Văn nghệ TP. Đà Nẵng trình làng đến bạn đọc truyện ngắn Chó Gôn và chó Đốm của ông .

Chó Gôn và chó Đốm

Con chó nhà ông Thăng đẻ được bốn con, nhưng chỉ nuôi được ba con, còn con chó thứ tư thì không rõ vì sao đã chết ngay sau khi lọt lòng mẹ. Ông Thăng suy đoán là nó bị ngạt thở vì bị đè dưới bụng mẹ và thân hình ba con chó bạn bè. Trường hợp này khá khan hiếm, âu đây là số phận hẩm hiu của nó .

Ba con chó sơ sinh được yên lành trông rất kháu khỉnh, dễ thương chẳng khác nào những con thú nhồi bông.

Bạn đang đọc: Chó Gôn và chó Đốm

Bà Búp, vợ ông Thăng, nhắc chồng : “ Nhà ta đã hứa để dành cho sư cụ chùa Long Vân một con chó đực, chọn con nào thật xinh xắn, hiền lành, hợp với cửa Phật. Ông đừng quên đấy nhé. Có bán thì chỉ bán hai con thôi ” .
Tuy là người rất hám tiền và không theo tín ngưỡng nào cả, nhưng ông Thăng rất nể vợ và biết kính trọng những bậc tu hành .
Ngay khi ba chú chó con còn bú mẹ và chưa kịp nhận một cái tên riêng, đã có một ông láng giềng đến mua một con để biếu cho mái ấm gia đình bà chị ở tỉnh xa. Ông láng giềng trả giá rất hời nên ông Thăng bằng lòng bán ngay không thương tiếc, chỉ dặn một câu cho phải đạo :
– Tội nghiệp, nó còn bé quá mà đã phải rời vú mẹ ! Trong nhiều ngày tới, bác đừng cho nó ăn cơm, gặm xương … đấy nhé, chỉ cho uống sữa bò thôi .
Khi người ta bế con cún con nhỏ xíu đi rồi, như sực nhớ ra một điều hệ trọng, ông Thăng bàn ngay với vợ :
– Thế mà nhà ta quên béng đi mất, – mấy chú cún con này đều chưa có tên .
Để đỡ tốn công tâm lý tìm tòi, vợ chồng ông Thăng nhất trí đặt tên cho hai chú cún theo màu lông mà trời đất và cha mẹ chúng đã ban cho chúng. Con cún thứ nhất được đặt tên là Vàng và con cún em, chỉ sinh ra sau anh nó trong tích tắc, có tên là Đốm .
Chỉ còn hai bạn bè với nhau, Vàng và Đốm quấn quýt không rời, gắn bó với nhau như hình với bóng. Có thể nói những ngày hai đồng đội Vàng và Đốm được cùng nhau sống chung bên vú mẹ, cùng bú, cùng ăn, cùng nô đùa, nghịch ngợm là những ngày vui sướng nhất trong cuộc sống chúng nó .
Nhưng, cũng giống như thân phận những con người, chỉ trong một buổi sáng, cuộc sống hai con chó đồng đội đã tách biệt đi theo hai ngả khác hẳn nhau. ( Nói như thế này đã là vô tình, mặc nhiên không nhắc đến con cún thứ ba, con cún đã chia lìa với mẹ và bạn bè quá sớm, đến nỗi cả ba chú cún sơ sinh đều không kịp cảm nhận sự việc gì đã xảy ra cho chúng nó ) .
Bây giờ, xin kể về con Đốm, – tuy là con chó em, nhưng lại ra khỏi nhà trước anh nó, và cuộc sống cũng kết thúc sớm hơn .
Con Đốm suôn sẻ được nuôi dạy bởi những tấm lòng từ bi, bác ái ở chùa Long Vân, mà người trực tiếp hơn cả là chú tiểu Hiền Nhi. Nó được ăn no, ngủ ấm, tắm thật sạch hằng ngày, bộ lông trắng lốm đốm những điểm vàng càng trở nên vui mắt. Con Đốm tha hồ tung tăng chạy nhảy khắp nơi, ở ngoài vườn cũng như ở trong chùa, kể cả tại phương trượng của sư cụ trụ trì. Chỉ có một chỗ cấm duy nhất so với nó là gian chính điện, nơi đặt bàn thờ cúng Phật .
Sự Open của con cún Đốm, một sinh vật nhỏ bé và đáng yêu và dễ thương, rất xinh xắn và cực kỳ hiếu động, giữa ngôi chùa tĩnh mịch đã đem lại cho tổng thể những vị tu hành trong nhà chùa, một niềm vui nho nhỏ, rất trong sáng. Hơn thế, những vị tu hành còn kỳ vọng rằng chỉ ít lâu nữa thôi, con cún nhỏ sẽ trở thành một tay giúp việc bảo vệ đắc lực, đáng an toàn và đáng tin cậy ( Trong tháng trước, một vụ mất trộm trong nhà chùa, tuy chỉ mất một bộ lư đồng và hai cặp chân đèn, nhưng cũng khiến cho những vị tu hành lo âu, không còn được thanh thản như trước, – chính vụ mất trộm giật mình này đã nâng cao niềm tin cẩn trọng của những người đang tìm đường thoát tục, giũ sạch bụi trần, nhắc nhở họ rằng : cây muốn lặng mà gió chẳng đừng, cái ác vẫn bám riết cái thiện bất kể nơi nào, dù tôn nghiêm đến mấy. Và một chú cún con, chưa biết hiền dữ, khôn ngoan hay mất nết, bỗng trở nên thiết yếu như một người bạn sát cánh ). Với nỗi vui bình dị, niềm kỳ vọng đơn sơ ấy, hằng ngày những vị tu hành thích thú nhìn con cún màn biểu diễn những trò tinh nghịch, thậm chí còn cả những trò phá phách không dễ chịu của một đứa trẻ được nuông chiều. Mỗi quả mận rụng đánh độp một tiếng, rồi lăn lông lốc dưới gốc cây đều trở thành một quả bóng để cho con Đốm tha hồ nhảy nhót, vờn lượn, đá qua đá lại. Một chiếc lá bàng màu đỏ như lửa đang vòng vèo, thư thả rơi xuống sân chùa, vài cái bao nhựa do ai đó vất bỏ bên lối đi, vừa cựa quậy theo một ngọn gió vật vờ, một cái chổi xể dựng trong góc nhà bếp … tổng thể những thứ đó đều trở thành những món đồ chơi ngẫu hứng, quá nghịch ngợm của chú cún con. Những động tác nhào lộn, tung hứng, lăn lê bò toài của nó, đi kèm với những tiếng kêu gừ gừ, ẳng ẳng lúc nhỏ lúc to, vừa vui mắt như những trò màn biểu diễn xiếc, vừa vui tai như giọng bi bô, ngọng nghịu của một đứa trẻ vừa tập nói, vừa tập hát .
Từ ngày có con Đốm, hình như những nhà sư trong chùa Long Vân cảm thấy yêu đời sống hơn và gắn bó với những nỗi buồn vui trần tục hơn. Có lẽ sự quyến luyến, quấn quýt chứa chan tình cảm của sinh vật nhỏ bé, đáng yêu này đã ảnh hưởng tác động kín kẽ bằng một con đường nào đó, làm cho họ cảm nhận can đảm và mạnh mẽ hơn sự hiện hữu của đời sống trong bản thân người tu hành, cũng như ngược lại, sự thân thiện, hòa nhập của người tu hành trong đời sống trần tục. Trước đây, mỗi bận đi, về, ra, vào cổng chùa họ lặng lẽ như những cái bóng, không chú ý tới cả việc chào hỏi nhau. Mà chào hỏi nhau để làm gì ? Ở đây, sự dửng dưng, lạnh nhạt và sự vồn vã, nồng nhiệt có lẽ rằng chẳng khác gì nhau. Bây giờ, bầu không khí đã biến hóa. Khi một người, bất kể là sư ông hay chú tiểu, từ trong chùa bước qua ngưỡng cửa, đi ngang qua sân chùa, sắp
sửa bước qua cổng tam quan thì đoạn đường ngắn này trở thành quang cảnh tiễn đưa ấm cúng thân tình. Con Đốm chạy lon ton quấn theo bước chân người đi, nhè nhẹ vẫy đuôi, âu yếm dụi đầu vào chân người bạn lớn, khẽ kêu lên những tiếng trìu mến, hình như chú cún con muốn nhắc lại mấy tiếng : “ Ấy, ấy … về sớm nhé … về sớm nhé ! ”. Và khi có người trở về sau một chuyến đi, dù dài hay ngắn, nỗi hoan hỉ của kẻ nghênh đón lại càng nồng nhiệt. Chú Đốm chạy nhảy tung tăng tíu tít nhiều lúc đứng dựng trên hai chân, nửa như muốn sà vào lòng, nửa như muốn ôm chầm lấy người thân trong gia đình mà Đốm vừa đưa tiễn không lâu. Cũng có lúc, sự bảy tỏ tình cảm quá hồn nhiên, quá vồ vập của người bạn nhỏ, làm quẩn chân hoặc bẩn áo của người bạn lớn. Nhưng, trong trường hợp đó, niềm vui được thương mến vẫn lớn hơn nỗi bực mình, không dễ chịu .
Có thể nói việc nuôi dạy con cún nhỏ không gây ra cho nhà chùa một sự phiền hà nào cả, mà chỉ đem lại niềm vui. Duy chỉ có một mối bận tâm ngắn ngủi trong mấy ngày đầu. Đấy là việc phân phối cho cái miệng ăn mới này một chính sách dinh dưỡng thích hợp nhất .
Ngày tiên phong con Đốm được đưa về chùa Long Vân, chú tiểu Hiền Nhi, người được phân công lo việc bếp núc trong chùa, thưa với sư cụ trụ trì :
– Bạch sư cụ, nên cho con Đốm ăn chay hay ăn mặn ạ ?
Sư cụ ngồi lặng im trong giây lát, chú tiểu không hiểu được rằng câu hỏi thiết yếu ấy lại khá giật mình so với nhà sư cao tuổi. Rồi sư cụ vấn đáp chậm rãi như vừa nói vừa tâm lý :
– Nhà chùa ăn chay, chả lẽ lại nuôi chó với thịt, cá ? Chả lẽ lại phải lo cho con Đốm một cái nhà bếp riêng ? …
Chú tiểu vẫn còn đôi chút phân vân :
– Bạch sư cụ, có lẽ rằng người chủ trước đây của con Đốm vẫn cho nó ăn mặn, nó quen rồi, giờ đây sợ nó không thích ăn chay, hoặc giả nếu nó miễn cưỡng chịu ăn chay, e nó sẽ ăn ít lại rồi gầy đi, sẽ chậm lớn …
– Có thể là nó quen ăn mặn, nhưng thói quen chưa phải là thâm căn cố đế, nó mới bỏ bú được khoảng chừng mươi ngày thì đã được đưa vào chùa. Bây giờ nó đã ở chùa, nhà chùa ăn thức gì thì nó ăn thức ấy .
Mấy ngày đầu ăn theo chính sách dinh dưỡng dành cho những vị tu hành, con Đốm có phần lười ăn. Nếu nói được chắc rằng nó đã bày tỏ với chú tiểu Hiền Nhi rằng nó không lấy gì làm khoái khẩu trong khi bữa ăn có quá ít chất béo, lại thiếu hẳn vị đậm đà vừa dai, vừa cứng, vừa giòn của xương, thịt, mùi tanh mê hoặc của tôm, cá .
Sau này, chú tiểu vẫn thường cười vui, kể lại ngay trong bữa ăn tiên phong ở chùa, con Đốm đã chê cơm như thế nào. Với cái khứu giác đặc biệt quan trọng tinh nhạy của nó, chú cún con hít đi hít lại nhiều lần, đánh hơi khá lâu trên đĩa thức ăn, sau đó, nó buồn bã, lủi thủi bước ra hiên, nằm khoèo trong một góc che khuất. Khoảng một giờ sau thấy không ai chú ý, phần vì quá đói, con
Đốm mon men đến bên đĩa cơm đã nguội lạnh, nếm qua vài miếng cơm có rưới một chút ít tương đậu nành, rồi lặng lẽ bỏ đi, với hình dáng, điệu bộ của một đứa trẻ đang hờn dỗi .
Cuộc bãi thực tiên phong này đã được chú tiểu kịp thời báo cáo giải trình lên sư cụ. Buổi chiều, sư cụ bèn đích thân bưng đĩa cơm đến đặt bên mõm con cún. Bữa cơm chiều có khá hơn bữa cơm trưa : chú tiểu đã trộn vào cơm vài miếng đậu phụ rán và một chút ít vừng. Sư cụ xoa đầu, vuốt sống lưng con cún, nói nựng với nó, như vừa dỗ vừa dọa một đứa bé :
– Nào chóng ngoan, ăn đi, ăn đi ! Cứ chê cơm như vậy, ta sẽ đem bỏ ra ngoài rừng để được có thịt mà ăn chung với chó sói !
Con Đốm chỉ hé mắt nhìn qua một thoáng như thăm dò, rồi lại nhắm mắt phớt tỉnh .
Sư cụ rất cưng con cún. Sư cụ là người tiên phong đưa ra ý tưởng sáng tạo nuôi chó để có thêm sức giữ chùa. Suýt nữa thì sư cụ nảy ra dự tính nhượng bộ – Sư cụ thoáng có ý nghĩ : “ Ta tu hành thì ta ăn chay, nó có tu đâu mà buộc nó cũng ăn chay ? ” Nhưng, ý nghĩ ấy chỉ thoáng qua rất nhanh, Sư cụ lại nghĩ : “ Việc rèn luyện cũng chẳng khác việc tu hành là bao, việc rèn luyện yên cầu phải
kiên trì … ” .
Sư cụ bảo chú tiểu : “ Cứ để cho nó nhịn cả bữa cơm chiều nay nữa xem sao ! Con cún này vốn là loài háu đói, bản năng của loài vật không hề vượt qua ý chí và trí tuệ con người ”. Nói thế chứ sư cụ vẫn dặn thêm : “ Sáng mai, khi rán đậu phụ, nhớ cho nhiều dầu lạc cho thật béo, thật thơm vào, nhé ” .
Nhưng, những vị tu hành trong chùa Long Vân khỏi phải đợi đến sáng hôm sau. Chỉ vài giờ sau đó, lúc nhà chùa đã tắt bớt 1 số ít ngọn đèn, sửa soạn vào giấc ngủ đêm, một con chuột nhắt đã tự tiện leo vào đĩa cơm và nhấm nháp ngon lành những thức ăn mà lẽ ra chỉ dành riêng cho con cún .
Sự cố do con chuột nhắt tham ăn gây ra một tác động ảnh hưởng tức thời vào con cún như một liều thuốc kích thích thật mạnh. Từ chỗ nằm trong bóng tối, con Đốm liền nhảy chồm ra. Nhưng nó vồ hụt tên ăn trộm. Con chuột nhắt, nhanh gọn hơn con cún gấp nhiều lần vụt biến mất .
Lúc này, như nhận ra giá trị không hề chối bỏ của đĩa cơm chay, con Đốm càng thấy cơn đói cồn cào đang hành hạ nó … Chuyện đời thường diễn ra như vậy : người ta chỉ biết quý những gì hoàn toàn có thể bị kẻ khác tước đoạt .
Sáng hôm sau, khi chú tiểu Hiền Nhi vào nhà bếp xem chừng con chó, chú nhìn thấy đĩa cơm đã hết nhẵn từ khi nào …
Từ sau bữa đó, cái ăn của con Đốm không còn là chuyện bận tâm của những người nuôi dạy nó. Nhưng, chẳng bao lâu, một sự cố mới lại xảy ra. Vào ngày Rằm tháng Bảy năm ấy, số khách thập phương đến chùa tăng gấp nhiều lần so với những ngày rằm, ngày mồng một hàng tháng. Và một số ít bà mẹ đã dắt theo cậu con quý tử của mình. Các cậu bé này, vốn đến cửa Phật vì ham vui hơn là vì sùng đạo, nên không hề bận tâm đến việc ăn chay hay ăn mặn. Nói đúng ra, nhiều cậu bé cùng lứa tuổi chưa phân biệt được những chính sách nhà hàng siêu thị và ý nghĩa sâu xa của những hiện tượng kỳ lạ đó. Có hai cậu bé bước qua cổng chùa với hai ổ bánh mì kẹp thịt, gồm mấy thứ thịt khác nhau : Thịt quay, dăm bông, xúc xích … Hai bà mẹ vốn là hai người bạn láng giềng, vào chùa
lễ Phật, để hai cậu bé ngồi chơi trên chiếc ghế đá ngoài sân chùa. Hai người bạn nhỏ giở bánh ra ăn. Vào lúc đó, không rõ từ đâu, con Đốm bỗng Open bên chân hai cậu bé. Nó đánh hơi được cái mùi của thịt nửa như lạ, nửa như quen mà lân la đến đây ? Hay chỉ do một sự vô tình ?
Con cún quấn quýt bên hai người bạn mới với tính thân thiện bản năng của nó, ngoài những, còn có một sự mừng thầm, ve vãn quá lố khiến người ta liên tưởng đến sự nịnh bợ của con người. Thật suôn sẻ cho con chó Đốm, nó vừa gặp được hai người bạn vừa hào phóng vừa khảnh ăn. Họ là con nhà giàu, vì quá thừa thãi nên không thiết gì đến cái ăn mà chỉ thiết cái chơi .
Thấy con cún ngộ nghĩnh, dễ thương và đáng yêu, họ muốn giữ con cún ở lại chơi với họ. Cậu bé thứ nhất bẻ một miếng bánh mì thấm đẫm nước xốt, ném cho con Đốm kèm với một lát thịt quay thơm lừng. Con Đốm vẫy vẫy cái đuôi, đớp gọn món quà quý, mà từ trong bản năng và cả tiềm thức nữa, nó đã khao khát từ khi nào. Hai cậu bé reo cười thú vị. Rồi cậu bé thứ hai cũng làm theo cậu bé thứ nhất, lần này miếng thịt quay cũng nhỉnh hơn đôi chút. Con Đốm đứng dựng trên hai chân, đớp miếng mồi, lần thứ hai này nhanh hơn, càng gọn hơn lần trước, đi liền sau đó là những động tác múa nhảy vui mắt, tưởng chừng như nó đang màn biểu diễn một trò xiếc để đáp lễ, tạ ơn hai người bạn quý. Hai cậu bé càng reo to, cười vang như nắc nẻ .
Những tiếng reo cười hồn nhiên, tự do của hai cậu bé vừa đến tai chú tiểu Hiền Nhi, chú vội chạy đến, vừa kịp lúc con Đốm đang nhai ngấu nghiến miếng thịt quay ở đầu cuối. Chú tiểu kêu lên :
– Ơ kìa, con cún vẫn ăn chay đấy, sao bé lại cho nó ăn mặn ? Sư cụ sẽ phạt nó cho mà xem !
– Sao cơ ? Thịt quay đâu có mặn ! Em có cho con cún ăn mắm, ăn muối gì đâu ?
Một cậu bé vấn đáp, tiếng cười vẫn chưa tắt hẳn. Cậu bé thứ hai có vẻ như tráng lệ hơn :
– Anh biết không, cha mẹ em bảo phải ăn nhiều thịt, nhiều cá mới chóng khỏe, chóng lớn. Con cún ở chùa này còn thích ăn thịt quay hơn con cún ở nhà em nữa đấy ! Anh cứ cho nó ăn thịt nhiều vào !
Suýt nữa thì chú tiểu phì cười, chú vừa thấy vui vui vì lời khuyên thiện chí, vừa cảm thấy ngỡ ngàng vì đã lâu lắm rồi chú không được nghe ai gọi chú bằng “ anh ”, một tiếng xưng hô ấm cúng thân tình .
Chú tiểu nhẹ nhàng cúi xuống định bế con cún lên, đưa nó rời xa hai người bạn mới. Com Đốm không ngoan ngoãn phục tùng chú tiểu Hiền Nhi như mọi hôm, nó lùi lại tránh hai bàn tay của chú tiểu, rồi chạy vòng ra sau cái ghế đá, chú tiểu phải khó khăn vất vả một hồi lâu mới tóm được nó. Chú vừa bế con cún đi vào phía trong, vừa khẽ phát vào mông nó mấy cái phát nhẹ nhàng như là vỗ nựng nó :
– Mày hư lắm ! Mày thèm ăn thịt đến thế, không khéo mày bị tống ra khỏi chùa đấy !
Trong giọng điệu trách móc, răn đe của chú tiểu có chút gì như thể sự cảm thông, san sẻ nhiều hơn là sự lên án, tức giận .
Trong ngày hôm đó và cả vài ngày tiếp nối, chú tiểu định bụng sẽ lờ đi chuyện lỗi lầm của con Đốm. Khốn nỗi, chính chú cún nhỏ lại tự tố cáo bằng cách chê cơm. Nó ăn ít đi trông thấy nên chẳng mấy chốc mà gầy hẳn đi. Sư cụ trụ trì gạn hỏi người được đặc trách trông nom con Đốm, chú tiểu đành phải nói thật :
– Bạch sư cụ, cách đây mấy hôm, có hai đứa bé đã cho con Đốm ăn thịt. Con nghĩ có lẽ rằng thế cho nên mà nó chê cơm chay. Mấy ngày hôm nay, tuy nó không bỏ bữa trọn vẹn, nhưng nó chỉ ăn cầm hơi …
Từ hôm đó, con Đốm được ăn theo chính sách tu dưỡng so với người ốm yếu, không nhiều về số lượng nhưng giàu chất bổ dưỡng. Thực đơn của nó được tăng thêm nhiều loại đỗ khác nhau, ngoài những, nó còn được chén một bát sữa bò. Dù vậy, con cún vẫn ăn một cách uể oải, miễn cưỡng, thậm chí còn có bữa nó bỏ cơm, chỉ uống sữa .
Được ít lâu thấy con Đốm vẫn gầy và chậm lớn, nhất là bộ lông trắng đốm vàng không còn được thướt tha như trước, chú tiểu lại thưa với sư cụ :
– Bạch sư cụ, có người bảo với đệ tử rằng, nay con Đốm đã đến tuổi dậy thì, càng khảnh ăn nó sẽ càng gầy thêm, sớm muộn gì nó cũng xổng ra khỏi cổng chùa, một là để tìm con cháu, hai là để tìm mùi tanh của thịt cá. Phải thiến nó đi, may ra nó mới được béo khỏe, nó mới khỏi chạy rông, đi tìm những thứ trong chùa không có .
Chú tiểu đề xuất một việc khá thông thường. Với đầu óc tâm lý đơn thuần, chú không hiểu trong ý niệm của những vị tu hành uyên bác và thâm thúy, việc tước bỏ cái cơ quan sinh dục của một sinh vật có ý nghĩa không đơn thuần chút nào. Nghe đệ tử nói vậy, sư cụ chỉ khẽ phủ nhận, đôi lông mày nhíu lại, bàn tay vẫn lần chuỗi tràng hạt, lững thững bước ra vườn .
Sư cụ vừa đi vừa nghĩ : “ Xem ra việc giáo dưỡng những sinh vật chỉ biết sống theo bản năng, đầy dục vọng thật không phải dễ ; liệu những việc ta làm cho con Đốm, trọn vẹn trái với ý muốn của nó, có nằm trong đức độ từ bi, bác ái, bao dung muôn loài muôn vật ? Có nên liên tục hành hạ, cưỡng bức nó sống theo khuôn phép khắc khổ mà ngay đến cả những con người thông thường cũng ít kẻ tự giác lao vào vào ? … ”
Trong khi số phận con Đốm đang còn lửng lơ chưa biết quyết định hành động bề nào, thì số phận của con Vàng, là anh nó, thế nào ?

Sự thay đổi đầu tiên trong thân phận là con Vàng được đổi tên. Ngay lúc đầu vừa đem con Vàng về tới căn nhà, từ lâu đã trở thành một quán thịt cầy nổi tiếng khắp thị trấn này, lão chủ quán Bảy Sang đã cười cười bảo vợ: “Thời buổi nay ai cũng chuộng hàng lạ, chuộng của ngoại. Cái tên Vàng, có quý đấy, nhưng người ta gặp ở hàng vạn con chó. Ta sẽ giữ lại cái chất Vàng quý giá, nhưng phải gọi theo kiểu Anh – Mỹ cho nó thêm sang trọng: từ nay con Vàng sẽ có tên là Gôn!”. Lão ta cười đắc chí, rồi tán rộng thêm ý nghĩa cái sáng kiến của mình: “Với lại, bà nó phải biết: Gôn, tiếng Anh vừa có nghĩa là cái cầu môn, vừa là một bàn thắng, vừa là vàng chính hiệu. Chỉ có bà không mê bóng đá nên không biết, chứ lũ nhóc lên năm, chúng cũng biết cái ý nghĩa tuyệt vời của cái tên Gôn!”.

Lão Bảy Sang đúng là có tài kinh doanh thương mại, đặc biệt quan trọng lão có rất nhiều ý tưởng sáng tạo trong việc cá độ. Không phải chỉ cá độ trong bóng đá, – cái trò xoàng xĩnh ấy, chàng trai bợm nhậu nào mà chả biết chơi ? Còn lão Bảy Sang, – lão hoàn toàn có thể cá độ bằng ba mươi sáu kiểu khác nhau, từ một ván cờ tướng, một bàn bi da … đến những múi bưởi, những cái biển số xe. Khác hẳn với đời sống tĩnh mịch hằng ngày của con Đốm, con Gôn sống giữa tiếng ồn ào náo động của người và xe, của những mớ âm thanh xô bồ, hỗn loạn mà con người gọi là ca nhạc, là quảng cáo hoặc là rao hàng. Đời sống ngày thường của bạn bè con Gôn, con Đốm lại càng khác xa nhau ở thiên nhiên và môi trường mùi vị. Trong khi mùi vị quen thuộc của con Đốm là mùi hương của hoa lá, cỏ cây, của nhang, của trầm, là cái vị thanh đạm của vừng, lạc, đỗ xanh, của rau đắng, của trái khổ qua … thì mùi vị đêm ngày vây quanh con Gôn là mùi mỡ rán, mùi lòng lợn, mùi tiết canh …
Một chỗ khác nhau điển hình nổi bật nữa là con Gôn không hề biết “ ăn chay ” là gì, nó vẫn được gặm xương, nhai thịt hằng ngày. Nhưng, có lẽ rằng chỗ khác nhau quan trọng nhất giữa đời sống của đồng đội con Gôn, con Đốm là : con Gôn vẫn được hưởng niềm niềm hạnh phúc thông thường mà quý giá, tạo hóa đã ban cho toàn bộ những loài sinh vật, – con Gôn được sống với sự gắn bó lứa đôi, sự mê hoặc của sinh vật đồng loại không cùng một giới tính .
Những con cầy tinh ranh không khi nào ăn thịt cầy, – lão Bảy Sang thường nghe người ta nói vậy. Tuy không tin nhưng lão cũng không thích cho con Gôn ăn thịt đồng loại của nó. Lão cảm thấy làm như vậy có một cái gì đó như thể một sự nhẫn tâm .
Một hôm, khi cho con Gôn ăn một đĩa cơm trộn thịt hổ lốn, lão quá bất ngờ thấy con cún cưng của lão chỉ hít ngửi, đánh hơi một lúc rồi lừng lững bỏ đi .
Suýt nữa thì lão Bảy Sang bật ra mấy tiếng chửi thề. Nhưng lão bỗng chợt nghĩ ra : Ban nãy, trong lúc vội, lão đã vô tình trộn lẫn vào đĩa cơm 50% khoan dồi chó, là thức ăn thừa của khách bỏ lại. Thế mà con Gôn đã chê cả đĩa cơm. Nó chưa nhìn thấy miếng dồi bé tẹo ấy, chỉ cần ngửi qua cái vỏ bọc là nó đã nhận ra cái hơi thở, cái mùi của đồng loại lẩn khuất ở bên trong. “ Gớm thật ! Tài thật ! Chó như thế mới gọi là chó chứ ! … ”. Lão Bảy Sang hể hả cười một mình .
Trong đầu lão vụt nảy ra một ý tưởng sáng tạo. – Lão tự nhủ : “ Những ngày không có Ơrô, cũng chẳng Wơ-cúp, trò cá độ này cũng hoàn toàn có thể kiếm chác khơ khớ, biết đâu đấy ? ” .
Để được chắc ăn, lão cẩn trọng kiểm tra, thử nghiệm tài nghệ của con Gôn thêm ba lần nữa …
Hai ngày sau, trong một bữa nhậu, lão Bảy Sang nửa đùa nửa thật bảo tay Hai Sỏ, vốn nổi danh là vua cá độ vùng này :
– Con Gôn nhà tớ là con cún tinh nhất trần đời ! Đố anh nào dỗ được nó ăn một chút xíu thịt cầy, dù chỉ là một rẻo da nhỏ bé như sợi chỉ .
Hai Sỏ nhếch mép cười :

Ôi dà, chỉ tán phét! Đến cứt khô mà lũ chó đói còn không chê nữa là!… chẳng qua vì con cún quý tộc của ngài chưa thực sự đói đó thôi. Cứ thử cho nó nhịn đói vài ngày là biết nhau ngay!… Lúc ấy, bất cứ thịt gì mà nó không xơi tái?…

Thấy câu truyện tranh cãi giữa Bảy Sang và Hai Sỏ có vẻ như ngồ ngộ, vui vui, nhiều tay bợm nhậu trong quán xúm lại mỗi người một ý, càng về sau càng rôm rả. Bảy Sang khấp khởi mừng thầm, nghĩ bụng : “ Hóa ra ở đời này thật lắm kẻ có máu yêng hùng, cũng không ít gã hiếu kỳ, tò mò đến mức thử sờ vào lửa xem có nóng thực không ! ” …
Cuộc tranh luận và hiệp thương có vẻ như ngẫu hứng ấy đi đến mấy điều giao ước, chấm hết như sau :
– Phe thú nhất gồm có sáu người, do Hai Sỏ đại diện thay mặt, quyết đoán : Chó đói vẫn ăn thịt chó .
– Phe thứ hai chỉ gồm có ba “ cá cược viên ” do Bảy Sang cầm trịch, – khẳng định chắc chắn điều ngược lại : Chó không khi nào ăn thịt đồng loại .
– Như vậy, tỷ suất, phương pháp cá cược địa thế căn cứ vào số tay chơi của mỗi bên là một ăn hai .
– Phe Hai Sỏ là phe bắt cá, được quyền chế biến thức ăn cho con cún, với điều kiện kèm theo phải dùng tối thiểu từ năm gam thịt cầy trở lên. Hai Sỏ còn được quyền đem con cún về nhà, bỏ đói suốt hai mươi bốn giờ trước lúc dọn bữa cho chó tại nhà Bảy Sang .
Tuy đã chắc mẩm phe mình thắng cuộc, lão Bảy Sang vẫn có phần thấp thỏm, suy đoán : “ Thằng cha Hai Sỏ không phải tay vừa, chắc hắn đã thủ sẵn một ngón nghề nào đây ”. Khi Hai Sỏ chiên đĩa cơm đặc biệt quan trọng dành cho con cún, Bảy Sang vừa tò mò, vừa lo ngại thấy tay bợm này dùng nhiều thứ thịt khác nhau, gồm có đủ bò, lợn, dê, gà vịt … ngoài những còn có cả hai cái đùi ếch. Riêng về cái khoản thịt cầy, hắn ta chỉ cho vào chảo một khúc đuôi nặng chừng sáu bảy gam. Không chỉ rưới mỡ, hắn dùng cả loại bơ đắt tiền, thơm lựng. Đặc biệt về gia vị, hắn không hề dùng riềng, và lại cho vào chảo thứ bột ngũ vị hương, – hắn gọi tên như vậy, – do hắn mang đến. Ngay từ lúc vừa mới chiên cơm, một mùi thơm độc lạ, mê hoặc đã lan tỏa khắp nhà .
Trước con mắt háo hức, bồn chồn chờ đón của cả hai phe cá cược, con Gôn đã ăn hết sạch đĩa cơm chiên một cách ngon lành. Điều đáng nói là trong đĩa hổ lốn có trộn lẫn một khúc đuôi thịt cầy đã được băm nhỏ. Trận này, số tiền thua cược của lão Bảy Sang lớn gấp nhiều lần số tiền lão đã kiếm được trong mấy trận cá độ mùa bóng Ơ-rô .
Lão Bảy Sang đau như vừa bị thiến. Phần con Gôn, từ lâu vẫn được cưng như một con chó kiểng, nay bỗng giật mình bị quật một trận đòn nên thân, đến nỗi nhiều ngày sau nó vẫn đi cà nhắc, hai tai cụp xuống trên bộ mặt thiểu não .
Ngày con Gôn hết đau chân, khỏi đi cà nhắc nữa, cũng là ngày một tay buôn chó mang đến bán cho lão Bảy Sang bốn con chó thịt, nhốt trong một cái cũi tre. Như mọi hôm, cái cũi chó được để trong một xó nhà bếp, chờ ngày hóa kiếp của bốn chú chó xấu số trọn vẹn lạ lẫm so với nhau, cũng như so với lão chủ quán và con vật đã nuôi sẵn trong nhà .
Con Gôn mon men đến bên cái cũi. Trong cũi, ba con chó đang đứng im lìm, vẻ thẫn thờ, ủ rũ, riêng con cún thứ tư đang nằm dài gần như bất động, đôi mắt đờ đẫn, ngây dại. Bộ lông trắng đốm vàng của nó trông quen mắt quá ! Con Gôn đến kề sát bên cái cũi, nghếch mũi hít hít những hơi dài và sâu. Con cún đang nằm trong cũi bỗng nhổm dậy, gí mũi lọt qua tuy nhiên tre. Hai cái mũi vốn đã từng quen thuộc, giờ lại được cọ vào nhau, mơn trớn, vuốt ve nhau. Và cả hai con cún cùng vẫy đuôi tíu tít, cùng cất lên những tiếng kêu mừng quýnh mà con người quen gọi là tiếng sủa, chứ lẽ ra phải gọi đó là những tiếng reo vui : Hai bạn bè cún Gôn – cún Đốm đã nhận ra nhau !
Một hồi lâu sau đó, con Gôn vẫn reo mừng không ngớt, có lúc nó thò cả mõm vào trong cũi, thè lưỡi liếm con Đốm, bày tỏ lòng thương nhớ. Có lúc nó chạy vòng quanh cái cũi, hết vòng này sang vòng khác, sau mỗi vòng chạy nó lại dừng ngay tại điểm xuất phát, cố lách cái mõm vào giữa những thanh tuy nhiên tre đang tạo nên một khoảng chừng ngăn cách vừa hữu hình vừa vô hình dung – vô hạn giữa hai bạn bè ruột thịt .
Về phần con Đốm, – vâng, đây đúng là con cún Đốm ở chùa Long Vân, – nó đã chui đầu vào sợi dây thòng lọng của một tay bợm chuyên nghề trộm chó, và đã đến đây trên một chiếc xe thồ. Từ giờ phút bị nhốt vào cũi, con Đốm được người ta cho gặm xương gà, ăn đầu tôm, xương cá và vài món ăn lạ nó chưa được chiêm ngưỡng và thưởng thức khi nào. Nhưng, chó đã nằm trong cũi chờ cắt tiết thì còn thiết gì món ngon, vật lạ ? … Hình như linh tính đã báo cho con Đốm biết số phận oan nghiệt của nó đã được định đoạt. Một nỗi chán chường đến vô vọng xâm lăng cả hồn, cả xác nó. Con Đốm mở màn bỏ ăn, suốt đêm ngày chỉ nằm dài, đôi mắt nhắm nghiền. Tưởng như nó muốn bí mật tự đắm mình vào cái chết .
Lần trước, khi ở chùa, con Đốm bỏ ăn để được ăn ngon hơn, sống sung sướng hơn. Lần này, trong chiếc cũi của tay đồ tể, con Đốm bỏ ăn để mong được chết nhẹ nhàng hơn, ít đau đớn hơn .
Đột nhiên, sự Open của đứa anh thân thương là con Gôn, – đã thức tỉnh can đảm và mạnh mẽ bản năng ham sống của nó .
Khi lão Bảy Sang bước vào nhà bếp, lão thấy con Gôn đang chạy vòng quanh cái cũi, còn con Đốm thì vừa tru tréo, vừa thò mõm qua tuy nhiên cũi, quẫy cựa, vùng vẫy, muốn thoát ra khỏi cũi. Cả hai con cún như vừa hóa điên hóa dại. Lão sững sờ, kinh ngạc, bồn chồn. Lão không hiểu đó là hai bạn bè đang thể hiện nỗi mừng vui đoàn viên hòa lẫn với nỗi đau chia lìa vì cái chết gần kề .
Lão Bảy Sang vớ lấy một thanh củi, quất vào sống lưng con Gôn :
– Con mẹ mày ! Làm gì mà nhặng xị lên thế ! Cút đi ngay ra ngoài kia !
Con Gôn bật ra một tiếng kêu đau xé, nhưng chỉ tránh xa chỗ lão Bảy Sang đang đứng chừng vài bước, rồi vẫn liên tục chạy vòng quanh cái cũi tre. Lão Bảy Sang tức giận nhận thấy, đây là lần tiên phong con Gôn tỏ vẻ ngang bướng, không tuân theo lệnh chủ. Lão giáng thêm cho con Gôn một gậy nữa, đau hơn trước. Con cún kêu rú lên đau đớn, vụt chạy ra khỏi nhà bếp. Như để phóng to, lê dài tiếng kêu đau đớn của con Gôn, con Đốm bỗng tru lên một hồi dài thảm thiết và càng lồng lộn dữ tợn hơn .
Lão chủ quán khó chịu quát to :
– Tao sẽ hóa kiếp cho mày ngay giờ đây ! Để mày khỏi tru lên, khỏi phát điên, phát dại như vậy !
Như thường lệ, khi làm thịt một con cầy, lão Bảy Sang không khi nào cho đồng loại của nó tận mắt chứng kiến. Lão dựng một tấm liếp ngăn cách tầm nhìn giữa cái cũi và nơi mổ thịt. Lão không chú ý đến con Gôn nữa, lão nghĩ bụng nó bị một đòn đau nhớ đời như vậy hẳn là nó tởn tới già. Lão không ngờ lúc lão vừa thọc lưỡi dao nhọn vào cổ con Đốm, – con vật khẽ kêu lên ặc ặc mấy tiếng nhỏ khó nghe, một dòng máu đỏ ối từ vết mổ vọt ra, – bất ngờ con Gôn từ ngoài phóng vào nhanh như một cơn lốc. Nó chồm lên cắn thật mạnh vào cổ tay đang cầm dao của tên đồ tể .
Đau quá, lão Bảy Sang rú lên một tiếng thất thanh, đứng bật dậy. Con dao nhọn rơi xuống chậu máu đỏ tưởi, – máu văng ra tung tóe trên nền nhà, nhiều vết máu bám trên sống lưng, lên cổ con Gôn. Lập tức, theo bản năng tự vệ, tên đồ tể đá mạnh vào con vật. Con Gôn sủa lên những tiếng gầm gừ, khó chịu, vượt qua cú đòn đau, quên cả nỗi sợ hãi mà loài vật nào cũng dành sẵn cho con người, – nó liều mạng xông tới đớp vào bắp đùi tên hung thủ. Bị giật mình, gã vội tránh mặt. Nhưng không kịp nữa rồi : ống quần của gã đã bị xé rách nát, máu ứa ra nơi vết cắn. Giữa lúc nóng vội hấp tấp vội vàng, gã thọc tay vào chậu máu, chụp lấy lưỡi dao, xỉa thẳng vào đầu con chó đang làm mưa làm gió. Con Gôn bị đâm ngay vào phía dưới mắt bên trái, máu chảy đỏ trên mặt nó. Đau quá nó cắm đầu phóng ra cửa. Nó băng qua đường phố, hướng về phía bờ sông mải miết chạy .
Lão Bảy Sang ráng chịu đau, chạy ra cổng nhìn theo, nhưng con chó đã biến mất tự hồi nào. Lão chửi đổng : “ Mẹ kiếp, mày sẽ bị đập chết như một con chó dại ! ” .
Chạy được một quãng khá xa, thấm mệt, con Gôn dừng lại để thở, lúc đỡ mệt nó lại ráng sức chạy, nó muốn tránh thật xa cái lò sát sinh ghê sợ này, càng xa càng đỡ sợ .
Suốt ngày hôm đó, nó chỉ uống nước cầm hơi, chưa được ăn bất kỳ một thứ gì .
Vừa do bản năng, vừa do một thói quen cố hữu, dọc đường đôi lúc con Gôn dừng lại đánh hơi như muốn tìm kiếm một mùi hương, một hơi thở quen thuộc .
Sau khi men theo bờ sông một quãng khá dài, con Gôn chạy đến một ngã ba, – đây là chỗ nó dừng lại đánh hơi lâu nhất, nó bật lên mấy tiếng rên khe khẽ, vẫy đuôi mừng như lúc gặp được những người thân trong gia đình, rồi hướng theo nhánh đường bên phải chạy xa dần bờ sông. Chẳng bao lâu, trời sập tối, rồi đêm dần về khuya. Nhưng con Gôn vẫn không hề dừng bước. Cái mùi hương, cái hơi thở quen thuộc như thôi thúc bước chân, dẫn đường cho nó .

 

Đó là một đêm cuối tháng, trên khung trời không trăng, không sao, mây đen ùn ùn giăng kín, báo hiệu một cơn mưa to đang đến. Khi trời đổ mưa, thì con Gôn vừa thất thểu chạy đến trước một cổng chùa. Không rõ do sự vô tình của số phận hay nhờ có thính giác tinh nhạy đặc biệt quan trọng của loài chó, – hoặc là do cả hai điều đó, – trên đường chạy trốn, con Gôn đã chạy đến chùa Long Vân .
Thoạt đầu, nó chỉ quanh quẩn ngoài cổng chùa, không dám vượt qua cái sân rộng. Nhưng khi tiếng sấm ùng oàng liên hồi kỳ trận nổ ra, những tia chớp lóe lên, xé nát khung trời đen, những sợi mưa quất ràn rạt lên đầu ngọn cỏ, lá cây, mặt đất thì con Gôn không còn đắn đo gì nữa, nó đánh liều băng qua cái sân rộng, vào trú mưa dưới mái hiên bao quanh ngôi chùa .
Ngoại trừ những ngọn đèn chong trên bàn thờ cúng Phật, mọi ánh đèn, ánh lửa trong chùa đã tắt từ lâu. Có lẽ tổng thể mọi người trong chùa đã ngủ say. Cái hơi của con Đốm, cái mùi của con Đốm càng về sau càng quấn quýt bên mình con Gôn, ùa vào mũi nó, chỉ ra những chỗ con Đốm đã nằm, đã ngồi, đã thở, đã sống. Đến một nơi nào đó, – có lẽ rằng là lúc phát hiện ra sự hiện hữu của con Đốm tại nơi đây, – con Gôn nhảy cẫng lên mừng thầm. Mừng quá, nó bỗng quên béng đi cái tình cảnh ngặt nghèo, bi thảm của nó lúc bấy giờ, nó sủa lên mấy tiếng rõ to, vang động cả ngôi chùa. Những tiếng reo vui đó của ngôn từ loài chó cất lên xen lẫn trong tiếng gió gào, tiếng mưa rít, tiếng sấm nổ ầm ầm, tạo
thành một bản nhạc quái đản tưởng chừng chỉ có nơi âm ti .
Các vị sư, những chú tiểu trong chùa bừng tỉnh giấc. Tất cả những ngọn đèn trong chùa đều bật sáng. Nhưng, cửa chùa vẫn đóng im ỉm .
Tay lần tràng hạt, sư cụ bảo chú tiểu : “ Có Fan Hâm mộ cho biết : con Đốm đã bị bắt trộm bán cho quán thịt cầy, người ta đã hóa kiếp cho nó rồi, sao đêm nay nó lại về đây ? Con ra xem có phải là oan hồn của nó chăng ” .
– Bạch sư cụ, con cũng nghĩ thế. Chứ đêm khuya mưa to gió lớn thế này, có con vật sống nào long dong dưới trời mưa để vào đây .
Trong bụng hơi chờn chợn, chú tiểu nỗ lực định thần, rồi nắm chặt một cây đèn pin, từ từ bước đến bên cánh cửa. Không hiểu sao chú tiểu đến bên cửa với những bước tiến thật ngần ngại, chậm rãi, vậy mà khi Open chú lại xô cửa thật mạnh. Cánh cửa mở toang ra, đập mạnh vào tường, một tiếng kêu đánh “ sầm ” vang dội giữa đêm khuya khiến bản thân chú tiểu cũng giật thót cả người. Dưới ánh đèn từ trong chùa hắt ra, chú tiểu thoáng thấy bóng một con chó từ dưới mái hiên lao vào trong mưa nhanh như một tia chớp vừa lóe lên giữa trời. Chú tiểu không kịp nhìn rõ màu lông và khuôn mặt con vật, nhưng chú vẫn phân biệt được dứt khoát đó không phải là con Đốm .
Chú tiểu không biết rằng, khi chú mở tung cánh cửa chùa, con Gôn phần đông đã kiệt sức vì đói, vì sợ, vì quá mệt nhọc stress sau một chặng đường kinh khủng. Sau khi cất lên những tiếng kêu rền rĩ, xúc động của loài chó mà con người gọi nhầm là những tiếng tru thảm thiết, nó gục xuống nền nhà, ngay bên cạnh cửa ra vào, tưởng như sẽ nằm bẹp mãi ở đấy, không khi nào còn đủ sức đứng dậy nữa. Thế nhưng khi tiếng “ rầm ” bất thần của cánh cửa đập vào tường, nó lập tức vùng dậy, hoảng sợ như phát điên lên, vụt phóng mình vào đêm mưa. Bao nhiêu sức sống còn lại trong khung hình, con Gôn đã dồn vào mấy động tác ở đầu cuối đó .
Chú tiểu liền bấm đèn pin, chiếu luồng sáng trắng vàng cố dõi theo bóng hình con chó, nhưng mưa gió và bóng đêm đen đã nuốt chửng con vật đáng thương .
Sáng hôm sau, trời hửng nắng, khi ra khỏi cổng chùa chừng vài mươi bước chân, chú tiểu phát hiện xác con chó có bộ lông vàng, trên thân mình còn sót lại đôi vết máu loang đỏ bầm mà nước mưa chưa gột rửa sạch. Vừa buồn, vừa sợ, chú tiểu vội trở vào chùa :
– Bạch sư cụ, tiếng tru giữa đêm khuya không phải là của hồn ma con Đốm. Có một con chó vàng nằm chết ngoài cổng chùa .
Sư cụ lặng người đi trong giây lát rồi khẽ thốt lên :
– A di đà Phật, con lo chôn cất cho nó thật tử tế nghe con .
Sau một thoáng ngần ngừ, chú tiểu thưa :
– Bạch sư cụ, con vật này chết thật thảm thương, thật tội nghiệp ! Con nghĩ nếu được chôn cất dưới gốc khế trong vườn chùa, may ra oan hồn nó sẽ sớm được siêu thoát .

Sư cụ trả lời chú tiểu với giọng buồn buồn như ân hận, như hối tiếc:

– Con định đưa nó vào nhà chùa để làm gì ? Một con vật sống, khỏe mạnh, nhà chùa còn không chu toàn được việc dưỡng dục, thì một con vật đã chết thảm, chắc gì nhà chùa sẽ chăm sóc cho oan hồn của nó được siêu thoát ? …
Chú tiểu đứng lặng phân vân không hiểu rõ ý sư cụ. Chú tiểu tự hỏi : “ Sư cụ vừa khiển trách đệ tử hay sư cụ tự trách bản thân mình ? … ” .

L.T.D

Source: https://vh2.com.vn
Category : Chế Tạo