Networks Business Online Việt Nam & International VH2

Phân tích bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão

Đăng ngày 02 August, 2023 bởi admin
Phạm Ngũ Lão là người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, tỉnh Hưng Yên. Ông có công lớn trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mông Nguyên, từng làm đến chức Điện Súy và được ca tụng là văn võ toàn tài. Phạm Ngũ Lão chỉ để lại hai bài thơ ( “ Thuật hoài ” và “ Vãn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương ” ), nhưng tên tuổi của ông vẫn đứng cùng ngang hàng với những tác gia danh tiếng nhất của văn học đời Trần. Và sinh ra trong toàn cảnh cả dân tộc bản địa Đại Việt đang sục sôi khí thế “ Sát Thát ”, bài thơ “ Thuật hoài ” chính là bức chân dung tự họa về vẻ đẹp của con người trong thời đại hào khí Đông A .
Trước hết, bài thơ “ Thuật hoài ” đã gợi ra hình ảnh người anh hùng thời Trần với vẻ đẹp đầy hùng tâm, tráng chí. Tác giả đã khắc họa hình ảnh kỳ vĩ của người anh hùng cứu nước trên nền hào hùng của thời đại. Người anh hùng ấy thật can đảm và mạnh mẽ, bền gan vững chí trong hành trình dài chiến đấu bảo vệ quốc gia :
“ Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu

(Múa giáo non sông trải mấy thu)”

Con người hiện lên qua câu thơ đầu mang một tầm vóc, tư thế, hành vi lớn lao can đảm và mạnh mẽ. Câu thơ dựng lên hình ảnh con người cầm ngang ngọn giáo để trấn giữ quốc gia. Cây trường giáo ấy có vẻ như được đo bằng chiều ngang của non sông, nghĩa là gia chủ cầm cây giáo ấy phải mang kích cỡ, tầm vóc thiên hà. So với bản phiên âm, phần dịch thơ vẫn chưa diễn đạt được hết sức mạnh, vẻ đẹp của tráng sĩ. Trong bản phiên âm, vẻ đẹp hiên ngang, lẫm liệt được biểu lộ ở ngay tư thế “ Hoành sóc ” – cầm ngang ngọn giáo. Còn ở bản dịch thơ mới chỉ dịch là “ Múa giáo ”, là hành vi gợi sự phô diễn, khoa trương … chưa bộc lộ được hết sự kì vĩ, vững chãi. Sự kì vĩ ấy càng hiện rõ trong mối quan hệ với khoảng trống và thời hạn : khoảng trống mở ra theo chiều rộng sông núi, thời hạn được đo đếm bằng mùa, năm ( kháp kỷ thu ) chứ đâu phải chỉ trong chốc lát
Hơn nữa, sự kì vĩ, hào hùng của hình tượng người anh hùng càng được nâng lên qua khí thế hào hùng của thời đại :
“ Tam quân tì hổ khí thôn ngưu
( Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu ) ”
Hình ảnh “ ba quân ” là để nói về quân đội nhà Trần nhưng đồng thời còn là hình tượng biểu trưng cho sức mạnh dân tộc bản địa. Ở đây nghệ thuật và thẩm mỹ so sánh đã vừa đơn cử hóa sức mạnh vật chất ba quân ( mạnh như hổ báo ) vừa hướng tới khái quát hóa sức mạnh ý thức của đội quân mang hào khí Đông A ( khí thế át sao trời ). Ở câu thơ này, phần dịch thơ với cụm từ “ nuốt trôi trâu ” cũng chưa diễn đạt được hết sức mạnh của quân đội như “ khí thôn ngưu ” trong bản phiên âm, với cách hiểu sức mạnh của ba quân ép chế cả sao ngưu trên trời có lẽ rằng sẽ miêu tả rõ hơn vẻ đẹp hào tráng đậm màu lãng mạn của quân đội nhà Trần .
Như vậy, hai câu thơ đầu đã biểu lộ sự kết nối ngặt nghèo, mối quan hệ hữu cơ giữa người anh hùng và thời đại anh hùng, giữa một công dân anh hùng và một dân tộc bản địa anh hùng .
Không chỉ đẹp ở sự kì vĩ, lẫm liệt, hào hùng, hình tượng người anh hùng còn đẹp bởi cái chí, cái tâm cao quý. Đó là con người ôm ấp tham vọng, lí tưởng thật cao đẹp. Với Phạm Ngũ Lão, lí tưởng sống mà ông hướng tới là đánh giặc lập công để đền ơn vua, báo nợ nước. Lý tưởng cao đẹp ấy được biểu lộ qua món nợ công danh sự nghiệp và nỗi thẹn với vĩ nhân :
“ Công danh nam tử còn vướng nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”

Hai câu thơ đã bộc lộ hùng tâm, tráng chí của người anh hùng thời Trần. Đó là lí tưởng sống của bao trang đàn ông thời phong kiến :
“ Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông ”
( Nguyễn Công Trứ )
Câu thơ của Phạm Ngũ Lão đã nói lên khát vọng lập nên sự nghiệp sánh ngang với bậc tiền nhân lỗi lạc. Và ý thơ cũng chứa đựng một lời thề trọn đời góp sức, lao vào cho vương triều nhà Trần, cho non sông quốc gia Đại Việt. Hùng tâm tráng chí của người anh hùng được bộc lộ ở ngay nỗi “ thẹn ” – thẹn chưa có tài mưu lược lớn như Vũ Hầu đời Hán để trừ giặc cứu nước. Đây là cách nói bộc lộ khát vọng, tham vọng được đem hết tài trí để góp sức cho quốc gia. Sau này trong văn chương, tất cả chúng ta cũng phát hiện những cái “ thẹn ” rất cao đẹp như trong thơ Nguyễn Khuyến :
“ Nhân hứng cũng vừa toan cất bút
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào ”

(Thu vịnh)

Với Nguyễn Khuyến đó là cái “ thẹn ” của một nhà nho – nghệ sĩ. Còn trong “ Thuật hoài ” là nỗi thẹn của bậc anh hùng – nghệ sĩ .
Và vẻ đẹp của người anh hùng “ Sát Thát ” ấy được Phạm Ngũ Lão khắc họa bằng bút pháp rất rực rỡ : ngôn từ trang trọng, kĩ vĩ, gợi ra dáng vóc của những người anh hùng truyền thuyết thần thoại, những người dũng sĩ trong sử thi …. Đặc biệt, là bài thơ tỏ chí, tỏ lòng nhưng không hề khô khan bởi nghệ thuật và thẩm mỹ dựng hình ảnh hình tượng, hàm súc, giàu ý nghĩa .

Bài thơ là bức chân dung tự họa của người dũng tướng thời Trần đầy hào hùng, trên cái nền quốc gia tràn trề sức mạnh quật cường. Hơn nữa, hình tượng thơ là kết tinh của niềm tin yêu nước và phẩm chất anh hùng của con người Nước Ta. Bởi vậy cùng với “ Hịch tướng sĩ ” ( Trần Quốc Tuấn ), “ Tụng giá hoàn kinh sư ” ( Trần Quang Khải ), bài thơ “ Tỏ lòng ” của Phạm Ngũ Lão sáng ngời hào khí Đông A, sẽ còn vang vọng mãi với non sông quốc gia .

Source: https://vh2.com.vn
Category : Đánh Giá